khuyen-mai-esc
Nhà đăng ký chính thức tên miền Việt Nam
HÀ NỘI Kinh doanh: (04) 39 42 68 96
TP.HCM Kinh doanh: (08) 629 44 808
24/7 Support
hotline-esc

Giới thiệu tổng quan về ENUM

ENUM là một thủ tục được phát triển bởi IETF, định nghĩa bởi [RFC3761] (Trước đây là rfc2916) trong đó “hệ thống DNS được sử dụng để định danh các dịch vụ có thể truy cập được trên 1 số E.164”. Có nghĩa là bằng cách sử dụng phương pháp chuyển đổi số (điện thoại) E.164 thành các trường thông tin định danh trong hệ thống DNS, sử dụng cơ chế chuyển giao quản lý của thủ tục DNS, và các trường dữ liệu “con trỏ quyền định danh” (NAPTR) trong hệ thống DNS mà người ta có thể tìm kiếm các dịch vụ được cung cấp trên 1 tên miền/số E.164 nào đó theo cách thức phân tán quyền quản lý thường được sử dụng trong hệ thống DNS.

Nói một cách rộng hơn, ENUM là một thủ tục công nghệ có thể được sử dụng để gắn kết hệ thống viễn thông truyền thống với hệ thống mạng truyền thông mới là Internet. Do đó, ENUM có thể được coi là một thành tố quan trọng của nền công nghiệp truyền thông trong việc chuyển đổi việc truyền tải thoại và dữ liệu từ mạng viễn thông truyền thống sang truyền tải qua mạng Internet.

Để hiểu rõ ENUM, trước hết cần tìm hiểu các khái niệm điện thoại, điện thoại IP (voice over IP), và cấu trúc của dịch vụ tên miền DNS.

1. Hệ thống điện thoại và điện thoại IP

Hệ thống điện thoại và điện thoại IP được xem xét đến do đây chính là các dịch vụ mấu chốt khiến cho ENUM được quan tâm đến. ENUM có thể mang lại nhiều lợi ích khác nhau, nhưng trước hết, ENUM được xem như 1 công nghệ cách mạng đối với sự hội tụ 2 loại hình dịch vụ thoại này.

“Mạng điện thoại công cộng” PSTN là khái niệm được dùng để chỉ hệ thống điện thoại truyền thống được xây dựng từ thế kỷ 20, và được ứng dụng toàn cầu, có mặt tại hầu hết các quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới. Tính chất quan trọng cơ bản là ở chỗ mạng này là mạng chuyển mạch kênh, tức là khi có 1 cuộc gọi được thiết lập, 1 kênh kết nối (kênh) sẽ được thiết lập bằng các chuyển mạch từ đầu cuối gọi tới đầu cuối bị gọi. Kênh kết nối này được thiết lập và duy trì cho tới khi cuộc gọi kết thúc.

Trái với chuyển mạch kênh, mạng Internet là mạng chuyển mạch gói, trên đó các thông tin được chia thành các gói và truyền trên các hệ thống thông tin sử dụng chung. Tập hợp các thủ tục xử lý các gói tin cùng với sự phát triển của các mạng kết nối với Internet đã làm cho Internet trở thành mạng kết nối lớn nhất toàn cầu. Ngày nay đa số các dạng thức dữ liệu thông tin trao đổi toàn cầu được lưu chuyển trên nền mạng Internet.

Điện thoại IP (voice over IP) là dịch vụ điện thoại sử dụng công nghệ chuyển đổi dữ liệu thoại thành các gói dữ liệu IP và truyền qua Internet thông qua các thủ tục internet. Hiện nay có rất nhiều dịch vụ VoIP khác nhau đã được triển khai thương mại trên thực tế, và đã trở thành một trào lưu phát triển mạnh mẽ

Để có thể gọi được điện thoại IP, không cần thiết phải sử dụng ENUM. Người ta có thể gọi trực tiếp tới đầu cuối sử dụng VoIP khác hay gọi thông qua 1 nhà cung cấp dịch vụ trung gian. Một phương pháp thông thường nhưng không phải là duy nhất là sử dụng thủ tục thiết lập phiên (Session Initiation Protocol) hay SIP. SIP làm nhiệm vụ thiết lập cuộc gọi, rung chuông người bị gọi thông qua Internet. Gửi gói tin SIP đi cũng tương đương với việc quay số trên mạng PSTN truyền thông. Địa chỉ được sử dụng trong SIP có dạng gần giống với địa chỉ thư điện tử, ví dụ như “sip:hmcuong@vnnic.net.vn” có thể được dùng làm địa chỉ bị gọi bởi SIP.

Một vấn đề tồn tại tại thời điểm này là sự tương tác giữa các đầu cuối điện thoại truyền thống và điện thoại IP có nhiều khó khăn. Trong khi các đầu cuối điện thoại IP có thể dễ dàng gọi tới đầu cuối PSTN thông qua các gateway chuyển đổi sử dụng phần mềm thì các đầu cuối thoại truyền thống, thông qua các chuyển mạch kênh kiểu cũ thường không thể hiểu được các đích định tuyến cần truyền tải, và do đó bắt buộc phải có 1 gateway cục bộ được định sẵn trong cùng mạng PSTN đó để kết cuối các cuộc gọi. Đó là chưa kể các đầu cuối truyền thống thường chỉ có các phím số, không thể sử dụng cùng loại địa chỉ với các đầu cuối VoIP (có thể có địa chỉ dạng SIP)… Đây chính là điểm ENUM được thiết kế để giải quyết.

2. Hệ thống DNS

DNS là một dịch vụ truy vấn có cấu trúc phân tán, mục đích chính của nó là sử dụng để truy vấn địa chỉ IP từ một tên miền. Còn ENUM, theo như định nghĩa trong [RFC2916][1], thì được sử dụng để ánh xạ số điện thoại theo chuẩn E.164 của ITU-T vào DNS.

Trong hệ thống Internet truyền thống, DNS được coi là một thành phần mang tính chất quyết định, được sử dụng như cơ sở hạ tầng cho việc ứng dụng đại đa số các thủ tục khác. Sở dĩ như vậy là vì đối với mọi loại dịch vụ được người sử dụng Internet sử dụng, “địa chỉ” nguồn, đích, hệ thống dịch vụ, gateway … là các yếu tố then chốt, và chỉ với việc sử dụng hệ thống DNS thì việc sử dụng địa chỉ IP, vốn là những con số khó nhớ, khó kiểm soát mới trở nên dễ dàng và có khả năng ứng dụng cao. Ngoài ra, hệ thống DNS được xây dựng với một cấu trúc phân tán, có khả năng mở rộng gần như không giới hạn, và với thủ tục truy vấn đã được phát triển và hoàn thiện qua thời gian dài, có tốc độ truy vấn cao và dễ ứng dụng, dịch vụ DNS đã trở thành dịch vụ tiêu chuẩn. Trung bình với mỗi phiên làm việc của 1 dịch vụ bất kỳ, thường cần đến ít nhất 3 truy vấn DNS. Đối với các dịch vụ như HTTP (dịch vụ duyệt web) thì số truy vấn còn nhiều hơn do các liên kết có trong các bản tin HTML có rất nhiều tham chiếu tới các địa chỉ web khác.

Trong khoảng thời gian hơn 30 năm phát triển của mình, thủ tục DNS đã được hoàn chỉnh và bổ sung tương đối nhiều. Điều đó có được là do các mô tả ban đầu của thủ tục có rất nhiều điểm mở, cho phép định nghĩa thêm các loại hình dữ liệu, các loại tham số, độ ưu tiên, trọng số, cấu trúc trường dữ liệu, kiểu dữ liệu mới một cách rất thuận tiện. DNS được đánh giá là có khả năng mở rộng không giới hạn, có khả năng lưu trữ gần như mọi loại dữ liệu, gần giống với hệ thống thư mục directory được phát triển gần đây. Thực tế, trong một số hệ thống như hệ thống Active Directory™ của Microsoft® ứng dụng trong các hệ thống Windows2000 trở lên, Microsoft đã sử dụng DNS như một cơ sở dữ liệu phân tán các thuộc tính trên diện rộng, và đã tạo ra một trào lưu mới trong việc đưa thêm các ứng dụng bổ sung khác vào DNS. Hiện tại, ngoài việc được sử dụng như cơ sở dữ liệu tên miền địa chỉ, DNS còn được dùng để truy vấn ngược từ địa chỉ ra tên miền (reverse lookup), tìm kiếm các máy chủ dịch vụ (như truy vấn bản ghi SRV được sử dụng trong SIP), LDAP schema …

Cơ sở của hệ thống DNS là một hệ thống cơ sở dữ liệu, được phân nhóm dựa trên các miền dữ liệu (domain). Với các dịch vụ internet truyền thống, các miền này là các tên miền (domain name) như .com, .net, .vn, .com.vn, .vnnic.net.vn …. Trong mỗi miền đó có các dữ liệu con như “www”, “mail”, “ftp”… và ứng với mỗi tên miền con có thể có nhiều các bản ghi dữ liệu. Điểm mạnh của DNS là ở chỗ các bản ghi dữ liệu có nhiều dạng khác nhau, và dễ dàng được khai báo thêm các định dạng mới, với các cấu trúc dữ liệu mới.

Ví dụ bản ghi khai báo cho các máy chủ thường có dạng:

www.vnnic.vn. IN A 203.162.57.102

Trong khi bản ghi đối với dịch vụ email có dạng

vnnic.net.vn. IN MX 10 mail.vnnic.net.vn.

hay bản ghi đối với dịch vụ ENUM có dạng

4.4.9.4.6.5.5.4.4.8.e164.arpa. IN NAPTR 10 10 “u” “sip+E2U” “!^.*$!sip:hmcuong@hmcuong.vnnic.net!” .

Có thể thấy, các cấu trúc dữ liệu rất khác nhau, và được định nghĩa tùy theo các yêu cầu cụ thể của thủ tục, ứng dụng sử dụng. Yếu tố quyết định ở đây là trường kiểu dữ liệu (record type) trong các bản ghi (như A, MX, NAPTR trong các ví dụ trên). Ứng dụng cũng có thể lựa chọn để nhận được dữ liệu ứng với 1 kiểu bất kỳ, hoặc cũng có thể lựa chọn để nhận tất cả các dạng bản ghi (ANY). Hệ thống DNS cũng có thể chỉ thị các tham chiếu để ứng dụng truy vấn các miền khác, hoặc các máy chủ khác nếu cần (cơ chế chuyển giao – delegation). Do đó hệ thống các máy chủ phân tán có thể được liên kết với nhau trở thành 1 hệ thống thông tin phức hợp, có thể mở rộng tới toàn cầu, toàn mạng Internet.

Hình 1. Cấu trúc phân tầng quản lý hệ thống DNS

Hình 1. Cấu trúc phân tầng quản lý hệ thống DNS

Để có thể phân tán hệ thống DNS toàn cầu, đồng thời đảm bảo được các công tác phân cấp quản lý và sử dụng hệ thống DNS, cơ sở dữ liệu hệ thống DNS được phân tầng quản lý như biểu đồ cấu trúc ở trên. Trong đó các tổ chức khác nhau được phân cấp (hay còn gọi là chuyển giao) các tên miền ở 1 cấp nhất định, và có thể phân cấp (chuyển giao) lại các tên miền cấp dưới của mình cho tổ chức khác …

Để tăng cường độ sẵn sàng của dịch vụ và phân bố tới mọi nơi trên thế giới 1 cách hiệu quả nhất, hệ thống máy chủ DNS được phân tán rộng khắp một cách mềm dẻo, với 13 máy chủ tên miền cấp cao nhất (root servers) phân bố toàn cầu như hình vẽ sau:

Hình 2. Các máy chủ tên miền cấp cao nhất (root server) và phân bố địa lý của chúng

Hình 2. Các máy chủ tên miền cấp cao nhất (root server) và phân bố địa lý của chúng

Các máy chủ tên miền root này lại chuyển giao các tên miền cấp dưới cho các máy chủ tên miền khác trên toàn thế giới, tạo thành một hệ thống máy chủ tên miền rộng khắp và bền vững nhất trong số các loại dịch vụ Internet thông dụng.

Ngoài ra, DNS còn có nhiều công nghệ quan trọng bổ trợ khiến cho nó có khả năng đáp ứng được nhiều yêu cầu khác nhau của các loại dịch vụ. Có thể kể đến một số công nghệ có liên quan như sau (chi tiết về các công nghệ này nằm ngoài phạm vi của luận văn, và có thể tham khảo từ các tài liệu được nêu trong phần tài liệu tham khảo).

2.1 Công nghệ cập nhật động (Dynamic update)

[RFC2136] đã giới thiệu khả năng cập nhật động các bản ghi DNS, và được ứng dụng trong các phiên bản BIND 8 và 9. Công nghệ này cho phép chương trình cập nhật (thêm, bớt) các bản ghi tài nguyên trong một miền mà máy chủ cho phép. Khả năng này cho phép server phân quyền cập nhật cho người sử dụng trên các miền mà họ đăng ký, và thông qua mạng Internet, có thể tự cập nhật sửa chữa các thông tin bản ghi mà mình muốn. Tính năng này được sử dụng trong ENUM để cho phép người sử dụng thay đổi các thông tin gắn với số ENUM của mình, do đó được coi là một thành phần tất yếu của 1 hệ thống ENUM thực tế.

Để quản lý việc cập nhật dữ liệu và phân quyền, có thể dùng các biện pháp kiểm soát truy nhập thông thường trong hệ thống DNS như kiểm soát bằng ACL (Access Control Lists), sử dụng các cập nhật được ký điện tử (sử dụng chữ ký điện tử của người cập nhật) TSIG[1], sử dụng DNSSEC …

Trong thực tế ứng dụng ENUM, các thao tác cập nhật thông tin động xảy ra rất nhiều, do đó hệ thống DNS phải được thiết kế để có thể đảm bảo chịu được tải truy vấn, cập nhật với số lượng lớn

2.2. Công nghệ DNSSEC

DNSSEC, hay các mở rộng an ninh cho hệ thống DNS, được định nghĩa trong [RFC2535]. Công nghệ này sử dụng cơ chế mã hóa công khai[1] để tạo ra các chữ ký điện tử, do đó tăng cường độ an toàn bảo mật thông tin cho các dữ liệu cập nhật. Vì lý do đó, DNSSEC an toàn hơn TSIG trong việc trao đổi cập nhật dữ liệu bản ghi động, và thường được ứng dụng trong các giao dịch cập nhật DNS giữa máy chủ chính và máy chủ thứ cấp

2.3. Công nghệ quản lý phân cấp EPP

EPP được định nghĩa trong [RFC3730], là kết quả của nhóm nghiên cứu về quản lý đăng ký (provisioning registry). Đây là công nghệ nhằm thống nhất các chuẩn giao tiếp của các hệ thống đăng ký, cung cấp khả năng làm việc phân cấp trên một cơ sở dữ liệu đăng ký chung. Thông qua EPP, các nhà đăng ký (registry) có thể đăng ký thêm các dữ liệu (như tên miền, số ENUM) vào cơ sở dữ liệu DNS chung.

Thông qua EPP, việc phân chia các Tier trên hệ thống quản trị ENUM được thực hiện dễ dàng và nhất quán.

Chính vì các đặc tính nói trên, DNS trở thành ứng cử viên sáng giá cho hệ thống thông tin lưu trữ trong các ứng dụng như ENUM.

3. ENUM

ENUM xuất phát từ ý tưởng xây dựng 1 hệ thống thông tin truy vấn giống như hệ thống trang vàng điện tử, qua đó từ 1 yếu tố có sẵn duy nhất với từng cá thể tham gia hoạt động mạng (ở đây chọn là số điện thoại, theo chuẩn do ITU quy định trong E.164, và đã được tất cả các quốc gia trên thế giới ứng dụng từ nhiều thập kỷ) có thể truy vấn ra các địa chỉ dịch vụ mà cá thể đó cung cấp, hoặc có thể sử dụng được. Thực tế trước đây với các hệ thống thư mục directory, hệ thống trang vàng, hệ thống tìm kiếm thông tin trên Internet, người ta đã xây dựng nhiều hệ thống truy vấn thông tin như vậy. Nhưng các hệ thống trên thường sử dụng tên cá nhân, địa chỉ email, hay thậm chí số thẻ an ninh xã hội … làm chỉ mục. Các thông tin trên mặc dù có thể là duy nhất, nhưng không có tính chất toàn cầu, cũng như các hệ thống thông tin đó khó có thể mở rộng ra toàn cầu và cho các ứng dụng trừu tượng, các ứng dụng chưa có tại thời điểm hiện tại, khó có thể cung cấp cho các môi trường ngôn ngữ, môi trường thông tin phức hợp khác nhau. Do đó ENUM ra đời với việc gắn các hoạt động lưu trữ và truy vấn với DNS đã giải quyết được các khiếm khuyết nói trên.

Với ENUM có thể ánh xạ 1 số điện thoại tới các dịch vụ hay tài nguyên mạng trong DNS, ví dụ như có thể ánh xạ số điện thoại ENUM vào số điện thoại, số fax, voicemail, số mobile khác, hay tới các địa chỉ email, trang chủ web, hay các loại hình dịch vụ hay tài nguyên khác được định nghĩa với định danh URI (xem phần sau). Trong trường hợp tối ưu, các số điện thoại bất kỳ đều có thể được ánh xạ 1 – 1 trong cùng hệ thống DNS toàn cầu, và do đó có thể tương tác qua lại được với nhau

Hình 3. Các dạng dữ liệu được ánh xạ từ 1 số ENUM

Hình 3. Các dạng dữ liệu được ánh xạ từ 1 số ENUM

ENUM là sự hội tụ của viễn thông và Internet. Với ENUM, một ứng dụng viễn thông (như điện thoại, fax) có thể làm việc với 1 ứng dụng Internet (như softphone, voice over IP, fax over IP, instant messenger…) mà không cần phải sinh ra các số điện thoại ảo (như đang làm trong các hệ thống VoIP hiện tại), và ngược lại. Sở dĩ như vậy là vì ENUM có thể ứng dụng ở đầu cuối hay ở tổng đài, hay các thiết bị chuyển đổi trung gian như sẽ trình bày ở phần sau. Qua đó, từ số điện thoại, qua truy vấn ENUM, ứng dụng sẽ biết được thủ tục giao tiếp cần sử dụng, địa chỉ tài nguyên đích được truy vấn và các thông số khác để thực hiện các kết nối.

Hình 4. ENUM được sử dụng để kết nối mạng PSTN truyền thống với mạng Internet

Hình 4. ENUM được sử dụng để kết nối mạng PSTN truyền thống với mạng Internet

3.1. Mô hình ứng dụng ENUM

Trên thực tế triển khai các hệ thống VoIP, một vấn đề kỹ thuật nảy sinh chưa được giải quyết triệt để là việc chuyển mạch các cuộc gọi từ mạng viễn thông vào mạng VoIP. Trong khi việc gọi từ 1 đầu cuối VoIP ra một điện thoại thông thường rất dễ dàng thì chiều ngược lại thường không xử lý được, thông thường, cuộc gọi được kết thúc trên mạng PSTN, và người được gọi phải kết nối terminal của mình với mạng PSTN cụ thể đó. Điều này dẫn đến cần phải phát triển một kiểu đánh số công cộng toàn cầu nào đó hỗ trợ việc đánh số cho các đầu cuối VoIP. Nhưng nếu không sử dụng hệ thống số E164 thì khả năng cộng tác giữa các mạng VoIP sẽ rất khó khăn. Nhiều quốc gia như Nhật bản cũng đã quy hoạch trong kho số E164 quốc gia một khoảng mã cho các ứng dụng IP base, nhưng điều này cũng chưa được chuẩn hóa nên khó tương tác với nhau. Trái lại với ENUM, không cần thiết phải quy hoạch lại cho đánh số mà có thể sử dụng cấu trúc đánh số sẵn có. Sử dụng ENUM, 1 đầu cuối IP có thể dễ dàng kết nối với đầu cuối viễn thông thông thường.

Các mô hình ứng dụng ENUM có thể được thực hiện ngay tại thời điểm hiện tại có thể kể đến:

Ứng dụng trong hệ thống ứng dụng Internet:

– Truy vấn trang chủ cá nhân qua số ENUM: Một trang chủ cá nhân trước đây có dạng http://www.hmcuong.com nay có thể được truy vấn với 1 số ENUM của chủ nhân: +84913212341 (Hệ thống DNS sẽ trả về URL tương ứng là “http://www.hmcuong.com”)

– Gửi và nhận thư điện tử với ENUM: Thay cho việc phải nhớ địa chỉ email của người nhận, có thể gửi email tới số điện thoại ENUM (Hệ thống DNS sẽ trả về URL là “mailto:hmcuong@vnnic.net.vn”, và hệ thống email tương ứng sẽ có được địa chỉ email cần để sử dụng)

– Nhắn tin tức thời (instant messaging) thông qua địa chỉ ENUM

– Gọi điện thoại IP dùng số ENUM: Ví dụ có thể dùng ENUM để truy vấn địa chỉ sip phone của người bị gọi, và do đó biến dịch vụ sip phone thành dịch vụ tương đương với dịch vụ điện thoại. (Xem phần thử nghiệm thực tế triển khai giải pháp này)

Ứng dụng cho hệ thống phức hợp viễn thông và Internet:

– Gọi từ mạng viễn thông vào dịch vụ Internet: Ví dụ có thể gọi tới 1 tổng đài gateway chuyển mạch mềm (softswitch) có hỗ trợ ENUM, tại gateway này, truy vấn ENUM với số điện thoại đích sẽ cho về các URL cuối có thể sử dụng. Địa chỉ cuối có thể là 1 số VoIP sử dụng H323, MGCP, SCCP, hay 1 softphone sử dụng SIP, và gateway lúc đó sẽ làm vai trò trung gian chuyển đổi. Lợi ích là ở chỗ các thuê bao của gateway này có thể sử dụng được số điện thoại công cộng thông thường, và có khả năng hoán chuyển giữa các dạng dịch vụ được cung cấp. Quan trọng nhất là ở đây, các đầu cuối viễn thông truyền thống không cần phải thay đổi để có thể sử dụng được dịch vụ mới.

– Gọi từ mạng Internet ra mạng viễn thông: Truy vấn ENUM từ đầu cuối, hoặc từ proxy, gateway cho phép lấy được địa chỉ URL của gateway cuối kết nối ra mạng viễn thông, và do đó các hệ thống VoIP toàn cầu có thể làm việc được với nhau trên nền cơ sở hạ tầng chung. Đây là vấn đề chưa giải quyết được đối với VoIP hiện nay, càng không giải quyết được với dịch vụ SIP.

– Sử dụng các dịch vụ kết hợp: Ví dụ gateway có thể cung cấp các dịch vụ viễn thông thông thường như thoại, fax, voicemail, và các dịch vụ ứng dụng Internet như voice to mail, voice to web, voice to IM, SMS to IM v.v.

Ứng dụng tích hợp

Một tổng đài softswitch hỗ trợ ENUM có thể được xây dựng cho môi trường dịch vụ tích hợp như ví dụ sau:

– Các thuê bao được cấp 1 số điện thoại công cộng (hoặc sử dụng số có sẵn). Với mỗi thuê bao, các dịch vụ có thể sử dụng là: điện thoại di động, điện thoại nhà riêng, điện thoại bàn làm việc, điện thoại softphone, email, trang chủ cá nhân, nhắn tin trực tuyến IM…

– Khi thuê bao không có mặt tại cơ quan (nhận biết qua hệ thống kiểm tra vào ra tại cửa cơ quan, cập nhật trực tuyến vào hệ thống DNS-ENUM, hoặc qua dịch vụ Presence-RFC2778), gateway sẽ trả chuyển mạch tới số điện thoại di động, hoặc số nhà riêng nếu số di động không liên lạc được

– Khi thuê bao tới cơ quan, gateway sẽ chuyển mạch tới máy để bàn

– Khi thuê bao login vào hệ thống thông tin nội bộ, gateway chuyển tới softphone sử dụng công nghệ SIP

– Trang chủ của thuê bao được kết nối nêu yêu cầu của người gọi là yêu cầu duyệt thông tin

– Email của thuê bao được cung cấp nếu yêu cầu của người gọi là gửi thư

– Tương tự đối với các hệ thống SMS, IM, Fax…

Tóm lại, với ENUM, có thể hội tụ các dịch vụ viễn thông và Internet để cung cấp 1 cơ sở hạ tầng thông tin chung, giải quyết được các vấn đề về làm việc cộng tác giữa các hệ thống dịch vụ khác nhau.

3.2. Các ứng dụng khác của ENUM

Định danh 1 số duy nhất

Cung cấp khả năng sử dụng 1 địa chỉ dạng số duy nhất cho tất cả các dạng liên lạc. Một số quốc gia như Hàn quốc có kế hoạch triển khai hệ thống địa chỉ số trọn đời (lifetime number), trong đó mỗi cá nhân có thể đăng ký 1 số (không nhất thiết phải là số điện thoại, nhưng theo chuẩn E.164) và có thể giữ số định danh duy nhất đó suốt đời. Với ENUM, số định danh này có thể được sử dụng làm địa chỉ liên hệ cho tất cả các loại hình liên lạc với chủ thể, bao gồm cả điện thoại cố định, fax, di động, trang chủ, email, VoIP, nhắn tin SMS, IM v.v.

Tách rời khỏi mạng viễn thông truyền thống

Có nhiều ứng dụng thực hiện theo hướng này, tức là làm giảm dần sự lệ thuộc vào hệ thống điện thoại truyền thống trong việc lưu chuyển các thông tin. Có một số hướng như sau:

– Loại bỏ PSTN ở phạm vi doanh nghiệp: Hệ thống thông tin nội bộ sẽ là hệ thống điện thoại IP. Truy vấn ENUM cho phép chuyển đổi cuộc gọi ra ngoài thông qua các gateway VoIP, và như vậy bỏ qua hoàn toàn hệ thống PSTN

Tương tự với trường hợp doanh nghiệp, các thuê bao cá nhân cũng có thể có nhu cầu sử dụng các hệ thống thông tin cá nhân hay gia đình có khả năng tùy biến cao, có khả năng kết nối từ internet tới internet, song song với khả năng sử dụng các dịch vụ VoIP và thoại truyền thống. Với các thiết bị gia dụng hỗ trợ ENUM, việc tích hợp là hoàn toàn có thể. Hiện tại cũng đã có các thiết bị gia dụng với chức năng chuyển toàn bộ các dạng dữ liệu truyền thông tới 1 gateway thiết kế sẵn, nhưng hệ thống này không có khả năng tùy biến cao, không có khả năng tự lựa chọn phương thức truyền thông và nhà cung cấp dịch vụ một cách trực tuyến.

Hình 5. Sử dụng gateway để tùy biến lựa chọn dịch vụ viễn thông thích hợp

Hình 5. Sử dụng gateway để tùy biến lựa chọn dịch vụ viễn thông thích hợp

Chuyển mạch cuộc gọi trong 1 mạng dịch vụ điện thoại

Các nhà cung cấp dịch vụ thoại cũng có khả năng đạt được lợi ích với việc đưa các hệ thống chuyển mạch mềm hỗ trợ ENUM vào sử dụng. Với ENUM, các tổng đài chuyển mạch mềm trở nên tương thích hoàn hảo hơn với các hệ thống tổng đài truyền thống, và do đó một bộ phận của hệ thống mạng trục dịch vụ có thể được truyền tải qua Internet mà không gây ảnh hưởng gì đối với các phần còn lại của hệ thống. Trong trường hợp này, việc đưa ENUM vào ứng dụng có thể là hoàn toàn trong suốt đối với người sử dụng, việc định tuyến cuộc gọi trong mạng có thể được quyết định bởi hệ thống DNS ENUM nội bộ, hoặc sử dụng hệ thống ENUM toàn cầu.

Hình 6. Mạng dịch vụ PSTN với IP backbone, routing với ENUM

Hình 6. Mạng dịch vụ PSTN với IP backbone, routing với ENUM

Tạo ra các dịch vụ điện thoại gia tăng tới các dạng dịch vụ Internet mới

Với ENUM có thể tạo ra các dạng dịch vụ mới cho các thuê bao điện thoại (với các phím số) kết nối với cơ sở hạ tầng phong phú dịch vụ của Internet. Sử dụng các khả năng đa phương tiện và truyền thông của Internet có thể cung cấp thêm các khả năng kết nối và nội dung cho các thuê bao điện thoại. Ví dụ có thể dễ dàng cung cấp các dịch vụ web, email cho điện thoại di động, text to speech cho điện thoại, SMS to IM, email to SMS v.v.

ENUM cũng có thể làm nảy sinh ra các dịch vụ mới, do khả năng sử dụng số điện thoại vào trong các dịch vụ IP một cách dễ dàng, nó có thể mang lại khả năng đưa các dịch vụ mới vào các thị trường viễn thông truyền thống.

Rate this post
Đăng ký tên miền

Đăng ký tên miền

9.5/ 10 - 1000 Voting
ESC Live Help
logo